Cảo bản điều trị gàu, u nhọt và thiên đầu thống

Vị thuốc cảo bản

Cảo bản là loại thảo dược khá thông dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc. Ở Việt Nam, vị thuốc này cũng được dùng trong nhiều toa thuốc hàng ngày.

Được biết, rễ củ của cây là bộ phận thường được dùng làm thuốc, với các công dụng chủ đạo là điều trị các chứng ung nhọt, đau nhức do phong hàn gây ra.

Vậy, cảo bản có công dụng gì, được ghi chép như thế nào trong các công trình y học và khi sử dụng cần lưu ý điều gì?

Vài nét về cảo bản

Cảo bản là vị thuốc được lấy từ rễ của một số loài cây như:

  • Cây Ligusticum jeholense, ở Trung Quốc gọi là liêu cảo bản (辽藁本), thuộc họ Hoa tán. Khi làm thuốc, rễ của cây được gọi là Bắc cảo bản hay Hương cảo bản (2) (3).
  • Cây Ligusticum sinense, thuộc họ Hoa tán, được gọi là cảo bản (藁本), khi lấy rễ làm thuốc thì được gọi là Tây khung cảo bản (1).
Cây cảo bản

Cây cảo bản

Công dụng của cảo bản qua các ghi chép

Đây là vị thuốc có từ lâu đời, được ghi chép và khẳng định tác dụng trong nhiều công trình y học như:

  • Theo sách Đạo tính bản thảo, vị thuốc này “trừ được 160 thứ gió độc, lợi tiểu tiện, thông huyết, khỏi nhức đầu”.
  • Theo sách Dụng dược pháp tương, vị thuốc này “trừ được các chứng phong thấp liễm vào đầu, mặt, thân thể, da thịt”.
  • Theo sách Chân châu nang, cảo bản giúp điều trị các chứng “nhức đầu, đau màng óc và khí lạnh liễm cảm” (2).
Cảo bản

Vị thuốc dạng khô

Vị thuốc cảo bản điều trị bệnh gì?

Rễ cây cảo bản là vị thuốc lành tính, có chứa tinh dầu và có vị cay, tính ôn ấm. Vì vậy, vị thuốc này thường được dùng trong các trường hợp như:

  • Trừ phong hàn, trừ thấp.
  • Điều trị nhức đầu.
  • Điều trị mụn nhọt, u nhọt.
  • Điều trị đau bụng.
  • Điều trị âm hộ lạnh sinh đau nhức.

Cách dùng: mỗi ngày, lấy từ 3 đến 6 g thuốc, nấu lấy nước uống (ở Trung Quốc dùng cả thân rễ và rễ với liều lượng từ 3 – 10 g theo hướng dẫn của thầy thuốc (2) (4).

Cảo bản, từ độc vị đến kết hợp

Tùy từng trường hợp, vị thuốc có thể được dùng ngoài da để tắm gội hoặc làm nước giặt giũ; có thể bôi thoa và cũng có thể làm thuốc uống; có thể dùng độc vị nhưng cũng có thể kết hợp với các vị thuốc khác để cho hiệu quả cao hơn.

1. Điều trị ghẻ lở ở trẻ nhỏ

Cách dùng rất đơn giản: bạn chỉ cần lấy một lượng rễ cây vừa đủ, nấu lấy nước rồi đợi nước nguội thì cho trẻ tắm. Mặt khác, bên cạnh việc tắm gội cho trẻ, bạn nên lấy thêm nước sắc rễ cây để giặt quần áo, như vậy thì bệnh ghẻ sẽ mau hết hơn (2).

2. Điều trị chứng đau bụng đại thực

Khi bị đau bụng và đã uống thuốc thông lợi mà vẫn không khỏi thì lúc này, người bệnh cần được giải độc. Cách giải độc như sau:

  • Chuẩn bị: 12 g cảo bản và 40 g thương truật.
  • Thực hiện: cho hai vị thuốc trên vào ấm, nấu lấy nước rồi chia ra hai lần uống trong ngày (lưu ý uống lúc thuốc còn ấm, nếu thấy nguội thì phải hâm lại (2).

3. Điều trị gàu và làm sạch da đầu

  • Chuẩn bị: hai vị cảo bản và bạch chỉ, liều lượng bằng nhau, đem tán thành bột rồi để dùng dần.
  • Thực hiện: mỗi buổi tối, lấy hỗn hợp bột rắc vào da đầu và chà nhẹ cho bột tiếp xúc đều, sau đó ngủ một đêm, đến sáng hôm sau thì gội đầu (2). Được biết, bạch chỉ cũng là loại thuốc thơm và có tác dụng sát khuẩn, làm sạch rất tốt.

4. Điều trị đau đầu và thiên đầu thống

  • Chuẩn bị: Khi bị nhiễm phong hàn khiến cho đầu óc đau nhức hoặc thiên đầu thống, bạn có thể kết hợp cảo bản (6 g) với các vị khác (cũng giúp điều trị các bệnh do gió gây ra) như: tế tân (2 g), phòng phong (5 g), cam thảo Bắc, xuyên khung và bạch chỉ (mỗi loại 3 g).
  • Thực hiện: lấy các vị trên rửa sơ với nước, cho vào ấm rồi đổ hai chén nước vào, sau đó đem sắc đến khi nước rút còn 1/ 3 thì ngưng. Thuốc này chia thành 3 lần uống trong ngày và kiên trì dùng thì sẽ thấy hiệu quả.
  • Lưu ý: uống sau bữa ăn và uống thuốc lúc còn ấm (nếu thấy nguội thì hâm lại) (3).

Đối tượng không nên dùng

  • Những người âm hư hỏa thịnh và không có thực tà thì không nên dùng (2).
  • Những người bị bệnh mà không do phong hàn gây ra cũng không nên dùng (2).
  • Những người nhức đầu do hỏa nhiệt bên trong cũng không được dùng (4).

Thông tin thêm

Theo giáo sư Đỗ Tất Lợi thì tên gọi của vị thuốc này bắt nguồn từ đặc điểm hình thái của nó: gốc cây (bản) giống như gốc lúa (cảo). Tuy nhiên, hiểu theo nghĩa chiết tự thì chữ “cảo” có nghĩa là khô, chữ “bản” có nghĩa là gốc (dùng để ám chỉ phần rễ làm thuốc của cây).

Nếu thấy bài viết trên có ích, các bạn hãy chia sẻ trên Facebook cho người thân và bạn bè mình biết nhé. Cảm ơn bạn!

About the author

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *