Sung loài cây tưởng như bỏ đi nhưng lại là vị thuốc rất có ích

Công dụng của cây sung quả sung xanh

“Ăn sung ngồi gốc cây sung,
Lấy anh thì lấy, nằm chung nỏ (không) nằm”…

                                                                                                          (Ca dao)

Không biết tự bao giờ, trong lời ăn, tiếng nói hàng ngày và trong kho tàng văn học dân gian, “cây sung”, “quả sung”, hay “sung” vốn đã trở thành những hình ảnh khá quen thuộc đối với nhiều người, đại loại như: “Rớt như sung rụng” (chỉ hiện tượng hỏng thi), hay “Há miệng chờ sung” (chỉ hiện tượng lười nhác, chỉ mong chờ những gì có sẵn),…

Cây sung, từ một thứ cây dại đã dần dần trở thành một loại cây trồng khá quen thuộc đối với người Việt. Người ta không chỉ trồng sung theo dạng bonsai để làm cảnh, hay tạo bóng mát, các bộ phận trên cây sung (lá, quả) còn được nhiều gia đình sử dụng khi chế biến các món ẩm thực.

Nếu có dịp thưởng thức các món thịt dê nổi tiếng của người Ninh Bình hay người Hương Sơn, Đức Thọ (Hà Tĩnh), thì tin chắc rằng bạn sẽ không bao giờ thấy thiếu vắng 02 thứ hết sức quan trọng, đó chính là quả sung và lá sung. Ngoài ra, quả sung còn được nhiều đầu bếp ngâm chua ăn cũng rất ngon và tốt cho tiêu hoá. Người Quảng Bình nơi tôi sinh sống thì cắt đôi quả sung, ngâm với mắm nêm có trộn thêm tỏi, ớt giã nát khoảng vài tiếng đồng hồ là có thể ăn xổi được rất bắt miệng,…

Không những thế, gần như các bộ phận trên cây sung (lá, quả) và những thứ tưởng như bỏ đi (mủ, rễ, vỏ, vú lá sung,…) đều có thể được dân gian sử dụng để chế biến thành các bài thuốc hay điều trị hoặc hỗ trợ điều trị nhiều bệnh tật, triệu chứng khác nhau.

Hình ảnh quả sung

Hình ảnh quả sung chín đỏ

Khái lược về cây sung

  • Tên gọi khác: Ưu đàm thụ hoặc tụ quả dong (1)
  • Tên khoa học:Ficus racemosaL (1)
  • Họ khoa học: thuộc họ dâu tằm (moraceae) (1)
  • Bộ phận dùng: Lá, quả, vỏ, rễ, mủ.
  • Tính vị: Lá sung có vị ngọt, hơi đắng, tính mát; quả sung, rễ sung và vỏ cây sung tính bình, có vị chát.
  • Thành phần hoá học: Protein, chất béo, đường, Ca, P, Fe, hàm lượng chất xơ cao, can xi, nhiều vitamin A, C, D, K,…(2)

Mô tả về cây sung

Sung là loại cây gỗ lớn, đường kính thân cây có thể đạt tới trên 50 cm. Hoa sung đơn tính cùng gốc. Vỏ sung màu nâu ánh xám, nhẵn. Các cành sung nhỏ, màu nâu nhạt. Các lá non có màu xanh nõn chuối, lá già có màu xanh đậm. Quả mọc thành chùm, lúc non có màu xanh nõn chuối, lúc chín có màu nâu tím.

Phân bố và thu hoạch, chế biến

Cây sung được trồng khắp nơi trên đất nước ta. Các bộ phận trên cây sung có thể được thu hoạch và chế biến quanh năm. Trong đó, ngoài lá sung, mủ sung thường dùng khi còn tươi, các bộ phận khác, như quả, rễ, vỏ sung có thể được chế biến thành sản phẩm khô để sử dụng dần.

Công dụng của cây sung

  • Hoạt huyết, kiện tỳ, ích vị, nhuận tràng.
  • Điều trị hen suyễn và sởi ở trẻ em.
  • Điều trị nhức đầu.
  • Điều trị sỏi mật, gan.
  • Điều trị chứng kém tiêu hoá và bện đường ruột.
  • Điều trị nhức xương khớp.
  • Điều trị mụn, nhọt.
  • Điều trị bệnh thiếu máu.
  • Điều trị chứng sưng vú ở phụ nữ.
  • Hỗ trợ điều trị ung thư.
  • Hỗ trợ điều trị bệnh trĩ.
  • Tăng cường chức năng sinh lý.
  • Tăng tiết sữa,…

Tham khảo: Tác dụng điều kinh, lợi sữa, điều trị giời leo và đinh nhọt của cây sung

Một số bài thuốc từ cây sung

1. Bài thuốc điều trị mụt ổ gà ở nách (3)

Khi trong nhà có người bị mụt ổ gà ở nách, rất đơn giản có thể sử dụng rễ cây sung với bài dân gian như sau:

  • Nguyên liệu: Chuẩn bị một nắm rễ cây sung và một ít giấm ăn.
  • Cách thức chế biến và sử dụng: Lấy rễ cây sung mài với giấm ăn sao cho đặc, sau đó bôi vào chỗ bị mụt ổ gà. Khi cảm thấy chất hỗn hợp này đã khô thì tiếp tục bôi cho được 02 ngày là có thể thuyên giảm.

2. Bài thuốc điều trị bệnh thiếu máu (4)

Nhiều phụ nữ sau sinh thường bị mắc bệnh thiếu máu làm cho da và niêm mặc trắng bợt, hay đánh trống ngực, hay nhức đầu, chóng mặt, ù tai, hoa mắt, có thể bị ngất, trông rất mệt mỏi, thiếu sức sống. Để điều trị bệnh thiếu máu, có thể tham khảo bài thuốc đơn giản sau đây:

  • Nguyên liệu: Chuẩn bị một nắm vỏ cây sung, quả sung đã chín và lá sung bị tật (loại có mụt nổi lên, thường được gọi là lá sung có vú).
  • Cách thức chế biến và sử dụng: Vỏ cây sung, quả sung chín, lá sung bị tật sau khi rửa sạch, cho tất cả vào nồi, đổ ngập nước, đun sôi thật kỹ sau đó gạn lấy nước trong. Lấy số bã vừa lọc hết nước cho thêm một ít nước lã vào tiếp tục đun sôi một lần nữa, gạn lấy nước trong như ở trên.
  • Lấy cả hai thứ nước hoà lẫn với nhau, đun cho đến độ hơi cô đặc, cho thêm một ít đường kính vào tiếp tục cô đặc để sử dụng. Mỗi ngày uống hai lần, mỗi ngày 01 thìa canh (uống với nước đã nấu chín trước bữa ăn).

3. Bài thuốc điều trị chứng sưng vú hoặc ung nhọt (5)

Dân gian thường lưu truyền nhiều bài thuốc có sử dụng lá sung, nhựa sung để điều trị và hỗ trợ điều trị chứng ung nhọt ở mọi lứa tuổi nói chung và chứng sưng vú ở phụ nữ. Ở xin giới thịêu thêm bài thuốc khá đơn giản từ việc dùng vỏ cây sung kết hợp với bồ công anh và lá cây phù dung để trị 02 triệu chứng kể trên.

  • Nguyên liệu: Chuẩn bị vỏ cây sung 20 g, bồ công anh 40 g, lá phù dung 10 g.
  • Cách thức chế biến và sử dụng: Khi làm thuốc để uống, lấy vỏ sung rửa sạch, cạo hết vỏ xám bên ngoài, thái mỏng; bồ công anh và lá phù dung rửa sạch. Tất cả các vị trên cho vào nồi đổ 03 chén nước, sắc lại còn 01 chén. Chia làm 02 lần cho người bệnh uống vào sáng và chiều trong một ngày, sử dụng luôn một vài ngày.
  • Khi làm thunốc để đắp ngoài: Cả 03 vị kể trên để tươi giã nát với một ít muối hột, gói trong miếng vải sạch đắp vào chỗ vú sưng. Ngày thay 02 lần, đắp luôn một vài ngày.
Nếu thấy bài viết trên có ích, các bạn hãy chia sẻ trên Facebook cho người thân và bạn bè mình biết nhé. Cảm ơn bạn!

About the author

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *